Warning: eregi() [function.eregi]: REG_EMPTY in /home/37/97/2929737/web/includes/internal/Functions.php on line 125

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/37/97/2929737/web/includes/internal/Functions.php:125) in /home/37/97/2929737/web/init.php on line 132
Welcome To IVCE
 The Institute for Vietnamese Culture & Education
 
 Coming up events
 
 1. Screening of ""Facing to the ocean: selected documentaries from Vietnam"

 
 
 
 
 
 NhipSong Magazine
 
Ðiện ảnh Việt Nam - Bước khởi đầu- đạo diễn Ðặng Nhựt Minh
 
 

Ðặng Nhật Minh sinh năm 1938 tại Huế. Là đạo diễn hàng đầu của điện ảnh Việt Nam, tên tuổi ông gắn liền với các bộ phim được nhiều người biết đến như Bao giờ cho đến tháng 10, Cô gái trên sông, Trở về, Thương nhớ đồng quê, Hà Nội - Mùa đông 46, Mùa ổi... Ông từng gặt hái nhiều giải thưởng tại các LHP quốc tế. Năm 1999 ông nhận Giải Nikkei Asia   Prize (Nhật) về những cống hiến trong điện ảnh Châu á. Từ 15 tháng 10 đến 15 tháng 11 năm 2004 ông có chuyến đi giao lưu cùng sinh viên của 11 trường đại học ở Hoa Kỳ. Nhịp sống xin giới thiệu phần đầu trong Phác thảo Lịch sử điện ảnh Việt Nam mà ông vừa biên soạn.

 

I. Buổi chiếu phim đầu tiên ở Việt Nam

 

Ngày 19 tháng 3   năm 1895 đã trở thành một ngày lịch sử của nhân loại, mở đầu cho sự ra đời một môn nghệ thuật mới chưa từng biết từ trước tới nay. Ðó là một ngày nắng đẹp. Hai anh em Lumiere   đặt chiếc máy quay phim tự chế của mình trước cổng một nhà máy ở thành phố Lyon (Pháp),   chờ đến giờ tan tầm, khi công nhân ra khỏi nhà máy để quay những thước phim đầu tiên. Phim chỉ có 50 giây, với một plan tĩnh từ đầu đến cuối. Chín tháng sau, ngày 28 tháng 12 năm 1895, buổi chiếu phim đầu tiên được tổ chức trong phòng bida dưới tầng hầm một quán cà phê ở Paris   trước   33 khán giả. Buổi chiếu đã gây một chấn động mạnh cho tất cả những người được xem hôm đó và lập tức được loan truyền đi trong thủ đô. Nhưng không ai tiên đoán được sự ra đời của một môn nghệ thuật mới sau này được mệnh danh là nghệ thuật thứ 7. Người ta chỉ nói về nó như một phát minh kỹ thuật đầy hấp dẫn mà thôi.

 

Một năm sau một số rạp chiếu phim đầu tiên xuất hiện ở London, tiếp đến ở New York, rồi đến Nga và Trung Quốc, Nhật Bản.   Ðầu năm 1896 hai anh em Lumiere mở một lớp học trong 6 tháng đào tạo quay phim để tung đi các nơi giơí thiệu phát minh mới mẻ này. Một trong những học viên đầu tiên đó là Gabriel Veyre, sau khi qua Thượng hải đã đến Hà Nội. Ngày 28 tháng 4 năm 1899 Veyre đã tổ chức buổi chiếu phim đầu tiên tại Hà Nội miễn phí cho công chúng vào xem. Vậy là chỉ bốn năm sau khi điện ảnh ra đời,   người Việt Nam đã được thưởng thức phát minh kỳ diệu này (báo L'Avenir du Tonkin số ra ngày 29/4/1899 xuất bản tại Hà Nội có tường thuật đầy đủ về buổi chiếu phim đó).

 

Sau buổi chiếu phim thành công ở Hà Nội, người Pháp bắt đầu nghĩ đến việc kinh doanh chiếu phim ở Việt Nam. Ngày 10 tháng 8 năm 1920 rạp chiếu phim đầu tiên được khánh thành tại Hà Nội do người Pháp làm chủ. Ðó là rạp Phathé Frères (Anh em nhà Patê) nằm cạnh hồ Hoàn kiếm.   Ðến năm 1927 trên cả nước Việt Nam đã có 33 rạp chiếu bóng (ở Bắc kỳ có 10 rạp ; Trung kỳ có 7 rạp ; Nam kỳ có 16 rạp). Ngày 11 tháng 9 năm 1923 Chính quyền thực dân Pháp đã cho phép thành lập Công ty Phim và Chiếu bóng Ðông Dương (Société Indochine Films et Cinemas - viết tắt là I F E C). Công ty này của người Pháp được độc quyền kinh doanh chiếu phim, nhập khẩu phim và cả sản xuất phim trên toàn cõi Ðông Dương. Ðến năm 1930 một công ty kinh doanh phim và chiếu phim khác ra đời có tên là Công ty chiếu bóng Ðông Dương (Société des Ciné Theatres d'Indochine, viết tắt là   S C T I). Chủ công ty này cũng là một người Pháp gốc Do Thái có mặt từ những ngày đầu khi điện ảnh mới du nhập vào Việt Nam.

 

Việt Nam chính thức là thuộc địa của Pháp từ ngày 6 tháng 6 năm 1884 sau một hiệp ước ký tại Huế giữa triều đình Nguyễn và đại diện nước Pháp. Ba năm sau, ngày 17 tháng 10 năm 1887 Pháp thành lập Liên bang Ðông dương gồm 5 xứ : Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ (do chia cắt Việt Nam mà   thành) cùng Lào và Cam Bốt nằm dưới sự cai quản của một viên Toàn quyền. Nước Pháp là cái nôi của điện ảnh thế giới, nên nhà cầm quyền thực dân Pháp ở Việt Nam   đã sớm du nhập điện ảnh vào thuộc địa của mình như một hình thức "khai phá văn minh " cho người bản xứ. Năm 1916 Toàn quyền Ðông Dương là Albert Saraut đã yêu cầu Bộ Chiến tranh (tức Bộ Quốc phòng) Pháp cử một Ðoàn điện ảnh quân đội sang Việt Nam   để quay phim giới thiệu về cuộc sống, phong tục, phong cảnh đất nước Việt Nam. Từ 1916 đến 1918 đoàn đã quay được   20 phim phóng sự, tài liệu. Những phim này chủ yếu giới thiệu với công chúng Pháp hình ảnh về   thuộc địa của mình để kêu gọi các nhà đầu tư, kinh doanh Pháp quan tâm đến việc khai thác thuộc địa.

 

Công việc kinh doanh chiếu bóng ngày càng phát triển. Ðến năm 1939 số lượng rạp chiếu bóng đã lên tới trên 60 rạp   (gấp đôi so với năm 1927). Ðến lúc này người Việt Nam mới bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh này. Người đầu tiên là nhà tư sản Vạn Xuân. Năm 1936 ông đã bỏ tiền xây rạp chiếu bóng Olimpia   (nay là nhà hát Hồng Hà trên phố Hàng Da ở Hà Nội ).

 

Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ (1939-1945). Giao thông đường biển từ Pháp sang Việt Nam bị Phát xít Ðức và Nhật phong tỏa, ảnh hưởng đến việc vận chuyển phim từ Pháp sang. Rồi Nhật làm đảo chính, lật đổ Pháp, nắm quyền cai trị Ðông Dương.Thời gian này một số chủ rạp người Pháp đã bán lại các rạp chiếu bóng cho những người Hoa ở Hà Nội, Sài Gòn. Các chủ người Hoa bắt đầu nhập phim từ Hong Kong, Singapore vào chiếu ở Việt Nam. Những phim được chiếu ở Việt Nam cho đến lúc này đều là những phim câm.   Bộ phim có tiếng đầu tiên được chiếu ở Việt Nam là phim Phía Tây không có gì lạ, được xây dựng theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Ðức nổi tiếng Eric Remark. Ðó là vào giữa những năm 30 của thập kỷ XX.

 

Từ buổi chiếu phim đầu tiên vào năm 1899 đến năm 1939 người Việt Nam đã làm quen rồi trở nên yêu thích môn nghệ thật mới mẻ này. Ðiều đó đã kích thích cho sự ra đời những bộ phim với những diễn viên Việt Nam, câu chuyện của Việt Nam mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau.

 

II. Những bộ phim câm đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam

 

Sau khi thành lập vào ngày 11 tháng 9 năm 1923 công ty Phim và Chiếu bóng Ðông dương liền bắt tay vào sản xuất phim tại Việt Nam. Từ năm 1923 đến 1938 người Pháp đã sản xuất được 10 phim (trong đó có 3 phim truyện).

 

Phim truyện dài đầu tiên là phim Kim Vân Kiều (phỏng theo truyện thơ nổi tiếng của đại văn hào Việt Nam Nguyễn Du) do ông Paul Thierry Giám đốc công ty và ông A.E. Famechon cải biên thành kịch bản văn học rồi dựng thành phim với độ dài 1.500m. Phim quay tại Hà Nội và làm hậu kỳ tại Pháp.   Các vai diễn trong phim đều do các diễn viên Việt Nam đóng. Nhưng bộ phim đã không thành công về mặt nghệ thuật cũng như doanh thu như người ta mong đợi. Người xem Việt Nam nhận thấy những nhân vật và những cảnh trên phim không giống với những gì đã được họ hình dung từ trước trong tác phẩm của đại thi hào mà họ vô cùng yêu mến. Công ty Phim và Chiếu bóng Ðông Dương bị thua lỗ nặng. Không nản chí, năm 1925 Công ty lại cho ra mắt khán giả một phim truyện hài ngắn có tên là Toufou có độ dài 600m. Phim nhại theo cách diễn xuất của Vua hề Charlie Chaplin. Ðóng vai chính Toufou là một người Việt lai Hoa tên là Léon Chang. Dư luận báo chí cũng như người xem đều cho rằng bộ phim quá yếu kém về nghệ thuật, là một món hổ lốn cóp nhặt từ những phim hài ngoại quốc. Công ty Phim và Chiếu bóng Ðông Dương lại một phen nữa bị lỗ vốn. Hai năm sau, năm 1927, Công ty Phim và Chiếu bóng Ðông Dương lại cho ra mắt bộ phim truyện thứ ba: Huyền thoại Bà Ðế có độ dài 1000 m. Nội dung phim dựa theo truyện ngắn

 

Chuyện Bà Ðế của Paul Munier sưu tầm từ kho tàng văn học dân gian Việt Nam nói về một cô gái bị cha mẹ, họ hàng nghi là hư hỏng bởi thói trăng hoa, nên bị buộc phải chết. Ðến khi được giải oan thì nàng đã không còn. Từ đó được dân làng lập miếu thờ gọi là Bà Ðế. Ðạo diễn phim là Georges Specht. Phim Huyền thoại Bà Ðế mặc dù được gửi sang chiếu ở Pháp nhưng vẫn bị thua lỗ về kinh tế. Sau thất bại của ba phim liên tiếp, Công ty Phim và Chiếu bóng Ðông Dương thôi không nghĩ đến chuyện làm phim nữa.

 

Những người làm phim đầu tiên ở Việt Nam là những người làm nghề nhiếp ảnh. Ðiều đó cũng dễ hiểu bởi đây là hai lĩnh vực nghệ thuật có liên quan đến nhau. Nhiếp ảnh đã có mặt tại Việt Nam rất sớm với sự ra đời của hiệu ảnh đầu tiên mang tên Cảm Hiếu Ðường của ông Ðặng Huy Trứ khai trương ngày 14-3-1869 tạ phố Ngõ gạch Hà Nội.

 

Người làm phim đầu tiên ở Việt Nam là ông Nguyễn Lan Hương, chủ hiệu ảnh Hương Ký, đồng thời là chủ Hãng phim Hương Ký có trụ sở đặt tai địa điểm của Khách sạn Phú gia bây giờ, bên Hồ Hoàn Kiếm. Bộ phim đầu tiên do ông Huơng sản xuất là phim Một đồng kẽm tậu được ngựa dài có 6 phút làm vào năm 1924. Ðây là một phim truyện hài, nội dung nhại lại câu chuyên ngụ ngôn về Nàng Pê- rét   và bình sữa của nhà văn Pháp nổi tiếng La Fontaine. Phim kể chuyện một nông dân nghèo có một đồng tiền kẽm, mua hạt giống cải đem về trồng. Ðến khi cải lớn thì thu hoạch, đem bán mua trứng gà về ấp. Gà lớn lại đem bán........ cứ thế tích cóp dần dần đủ tiền mua một con ngựa. Nội dung phim sơ sài. Kỹ thuật phim yếu kém. Do vậy Một đồng kẽm tậu được ngựa, bộ phim đầu tiên của điện ảnh Việt Nam đã không để lại ấn tượng gì trong khán giả.

 

Nhưng chỉ sau đó ít tháng, ngày 1 tháng 5 năm 1926 ông Hương đưa ra trình chiếu 2 phim phóng sự Ðám tang vua Khải Ðịnh và Lễ tấn tôn đức vua Bảo Ðại. Hai phim này chiêú liên tiếp 27 ngày tại Hà Nội, người xem rất đông, đạt hiệu quả cao về mặt tài chính.   Sau thành công vang dội trên ông được Tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam   (Trung quốc ) đặt hàng làm hai phim phóng sự quay tại Trung Quốc (một trong hai phim là Ðám tang Tướng Ðường Kế Nghiêu làm năm 1929). Nhưng sau đó người ta không thấy ông Nguyễn Lan Hương làm phim tiếp, mà lặng lẽ trở về với nghề nhiếp ảnh của mình. Có người cho rằng Chính quyền thức dân Pháp không muốn có một công ty Việt Nam cạnh tranh với Công ty Phim và Chiếu bóng của người Pháp đang bị thua lỗ nặng nề sau khi làm ba phim thất bại.   Hãng phim đầu tiên của người bản xứ - Hãng Hương Ký - tự xoá sổ sau vài năm tồn tại. Từ đó hoạt động sản xuất phim của người Việt Nam ngừng hoạt động suốt 7 năm liền (từ 1930-1936 ). Dầu sao ông Nguyễn Lan Hương cùng Hãng phim Hương Ký của mình đã chứng minh được một điều: Người Việt Nam có thể làm phim và đã từng làm được phim của mình vào những năm cuối thời kỳ phim câm của điện ảnh thế giới.

 

III. An Nam nghệ sỹ đoàn và những   phim có tiếng   đầu tiên ở Việt Nam

 

Những năm 30 của thế kỷ XX đánh dấu nhiều sự kiện quan trong trong đời sống của nhân dân Việt Nam : Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ra đời (3-2-1930), nhiều cuộc đấu tranh của nông dân, thợ thuyền chống lại chính sách hà khắc của thực dân Pháp. Một mặt nứơc Pháp lại đang bận tâm dồn sức đối phó với những thế lực phát xít đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mặt trận Bình dân ở Pháp thắng lợi trong cuộc bầu cử, lập chính phủ mới vào năm 1936, đã nới lỏng ách cai trị đối với các thuộc địa. Tại Việt Nam hình thành một lớp trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo, thanh niên thành thị tiếp thu những tinh hoa của văn hóa Pháp. Một cao trào trong sáng tác văn học, sân khấu, âm nhạc nở rộ.   Trong bối cảnh đó từ năm 1936 đã xuất hiện nhiều nhóm thanh niên Việt Nam có ý định làm phim. Những thanh niên này tập hợp nhau lại trong một tổ chức có tên là An Nam nghệ sỹ đoàn (An Nam là tên gọi trước đây của Việt Nam). Họ say mê nghệ thuật thứ bẩy, tự học hỏi về nghề nghiệp mới mẻ này qua sách vở gửi mua từ Pháp. Họ có đủ nhiệt tình duy chỉ thiếu tiền và phương tiện máy móc. Chuyến thăm Hà Nội và Sài Gòn của thiên tài điện ảnh Charlie Chaplin cùng vợ là Paulette   Godart vào năm 1937 lại càng thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình trong tim họ.

 

Ðầu năm 1937, một thương gia người Hoa giầu có ở Hải Phòng tên là Trịnh Lâm Ký đã tiếp xúc với An Nam nghệ sỹ đoàn bàn việc đưa một đoàn diễn viên Việt Nam sang Hong Kong để quay phim. Nhưng việc không thành vì xẩy ra cuộc chiến tranh Trung - Nhật. Các nghệ sỹ trong An Nam nghệ sỹ đoàn tiếp tục vận động những người giầu có ở Hà Nội bỏ tiền ra làm phim nhưng không có kết quả.

 

Cuối tháng 11 năm 1937 An Nam Nghệ sỹ đoàn ký được một hơp đồng làm phim với Công ty điện ảnh Nam Trung hoa (The South China Motion Picture Co.) để sản xuất bộ phim truyện dài Cánh đồng ma.

 

Theo hợp đồng phía Việt Nam chịu trách nhiệm viết kịch bản, cung cấp 22 diễn viên để diễn các vai chính phụ trong phim, tự chi tiền vé khứ hồi bằng đường thủy Hải Phòng - Hong Kong - Hải Phòng, trả tiền thù lao cho các diễn viên và sẽ được hưởng 15% lợi nhuận sau khi trừ toàn bộ chi phí.

Phía Công ty điện ảnh Nam Trung Hoa cử người làm đạo diễn, quay phim cùng các chuyên viên kỹ thuật, phương tiện máy móc, tổ chức sản xuất, in tráng, hậu kỳ, in hàng loạt các bản phim để chiếu ở các rạp, được hưởng 85% lợi nhuận.

 

Kịch bản phim Cánh đồng ma do Ðàm Quang Thiện viết (bút danh trên phim là Nguyễn Văn Nam). Nhân vật chính là Hùng, một sinh viên trường Y, học hành rất thông minh, nhưng vì xuất thân trong một gia đình bất hảo (cha mẹ đều là dân ăn chơi) nên Hùng nhiễm cái gien của cha mẹ mình. Do vậy càng hấp thu được nhiều kiến thức khoa học Hùng càng có nhiều hành động dị thường. Ðàm Quang Thiện vốn là một sinh viên Y khoa, nên kịch bản của ông muốn chứng minh cho luận thuyết di truyền trong Y học. Nhưng Công ty điện ảnh Nam Trung Hoa cùng Ðạo diễn Trần Phì, người Trung Hoa, đã tự ý sửa nội dung kịch bản, biến nó thành một phim trinh thám với nhiều máu và đàn bà. Các nghệ sỹ Việt Nam cực lực phản đối nhưng không kết quả. Họ đành phải uất ức mà diễn theo những nội dung không có từ trước trong kịch bản. Sau 13 ngày quay cật lực, phim Cánh đồng ma đã hoàn thành giai đoạn quay vào ngày 30-1-1938.

 

Sau khi quay xong Cánh đồng ma, Công ty Nam Trung Hoa đã dụ dỗ 6 diễn viên người Việt ở lại Hong Kong để quay tiếp cho họ phim Trận phong ba, một phim trăm phần trăm là phim Hong Kong tuy câu chuyện nói về người Việt và   do người Việt đóng.   Truyện phim kể về cuộc đời của một học sinh gốc nông thôn được cha mẹ cho ra thành phố ăn học, những đã sa ngã trong "gió bụi kinh thành". Cuối cùng chàng bị cha mẹ bỏ rơi, vợ hiền từ bỏ, nên đã tự tử để thoát đời trần tục. Phim Trận phong ba khởi quay 6 ngày sau khi kết thúc cảnh quay cuối cùng của phim Cánh đồng ma. Công ty   Nam Trung Hoa gấp rút hoàn thành phim này với âm mưu tung ra chiếu trước phim Cánh đồng ma.   Do phim làm một cách cẩu thả, vội vã nên khi đưa sang chiếu ở Việt Nam bị người xem kịch liệt phản đối la ó ầm ỹ ngay trong rạp. Báo chí ở Việt Nam hồi ấy đều cho rằng đây là một thứ hàng giả dán nhãn hiệu Việt Nam, đông thời cũng lên án 6 diễn viên người Việt ở lại Hong Kong để đóng phim này.

 

Ðến đầu tháng 7 năm 1938 phim Cánh đồng ma mới đươc Công ty Nam Trung Hoa tung ra chiếu (sau phim Trận phong ba một tháng). Tuy có hơn Trận phong ba một chút nhưng khán giả cũng như dư luận báo chí đều chê trách những yếu kém của phim. Sau Cánh đồng ma   năm 1938 các nghệ sỹ trong An Nam nghệ sỹ đoàn còn tham gia đóng trong hai phim truyện nói tiếng Pháp do Hãng Francon Film thực hiện tại Việt Nam rồi không tiếp tục hoạt động nữa vì không có ai dám bỏ vốn ra làm phim tiếp. An Nam nghệ sỹ đoàn chỉ tồn tại trong 2 năm nhưng họ đáng được ghi nhận như những người Việt Nam đầu tiên hợp tác làm phim với nước ngoài, tuy không đựơc thuận lợi như ta đã biết.

 

Cuối năm 1937 chủ Hãng đĩa hát   Asia tên là Nguyễn Văn Ðinh, vốn là một kỹ sư say mê nghệ thuật điện ảnh, đã cho ra đời tại Sài gòn Hãng phim Châu á (Asia Film). Ông đã bỏ tiền mua máy móc thiết bị từ bên Pháp về để sản xuất phim có tiếng cỡ 35mm đầu tiên tại Viêt Nam. Ðầu năm 1938 Hãng Asia Film khởi quay bộ phim Trọn với tình có độ dài 90 phút trên phim đen trắng 35mm. Ðạo diễn là Nguyễn Văn Danh (tức Tám Danh) xuất thân từ nghệ sỹ sân khấu cải lương. Kịch bản, quay phim và dựng phim do Giám đốc hãng là Nguyễn Văn Ðinh thực hiện. Phim được quay và làm hậu kỳ hoàn toàn tại Việt Nam do các chuyên viên kỹ thuật Việt Nam đảm nhiệm mà lực lượng nòng cốt là các kỹ thuật viên của Hãng đĩa hát Asia. Trình độ nghề nghiệp thấp, kỹ thuật non yếu không thể mang lại thành công cho phim Trọn với tình như mong đợi. Dầu sao khi tung ra chiếu vào đầu năm 1939 người xem cũng đi xem đông để cổ vũ cho phim nước nhà vì đây là một bộ phim "có tiếng nói" 35mm đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam, do người Việt Nam làm ra.

 

Sau Trọn với tình Nguyễn Văn Ðinh còn cho ra tiếp 3 phim nữa do mình tự viết kịch bản, tự đạo diễn, tự quay phim, dựng phim v.v... Ðó là các phim : Cô Nga dạo thị thành (1939); Khúc khải hoàn và Toét sợ ma (1940), nhưng cả 3 phim về nghệ thuật và kỹ thuật đều không hơn   gì Trọn vói tình. Từ năm 1940 Hãng phim Châu á ngừng hoạt động cho đến những năm 60, tại Sài gòn dưới sự kiểm soát của chính quyền Miền Nam Việt Nam   mới hoạt động trở lại.

 

Năm 1939 một Hãng phim mới ra đời nữa tại Sài gòn là Hãng Việt Nam phim với bộ phim truyện ra mắt có tên là Một buổi chiều trên sông Cửu long. Phim được quay trên phim 16mm, có độ dài 90 phút với âm thanh ngoài phim   (nhạc, lời, tiếng động được thu vào đĩa, khi chiếu được bật lên cùng hình ảnh). Thực sự đây là một phim "câm "do Nguyễn Tấn Giầu viết kịch bản, đạo diễn, quay phim, viết nhạc kiêm giám đốc sản xuất. Phim kể về một cô gái bất hạnh bị cha mẹ ép gả cho một trọc phú ít học, cục mịch và thô lỗ nên đã cùng người yêu chạy trốn ngay trong đêm tân hôn. Không may người yêu trượt chân ngã xuống thác nước chết. Cô gái chôn cất người yêu xong, cắt tóc đi tu. Phim Một buổi chiều trên sông Cửu Long chỉ chiếu được vài buổi ở Sài gòn và Mỹ Tho rồi không thấy được chiếu ở đâu nữa. Cuối năm 1939 Nguyễn Tấn Giầu lại bắt tay làm tiếp phim truyện hài Lão thầy pháp râu đỏ và phim tài liệu Ðèo ngang tức cảnh. Cả hai phim trên đều chung số phận "chết yểu" như bộ phim trước. Dầu sao cũng cần ghi nhận rằng: trong những bộ phim của mình Nguyễn Tấn Giầu đã có ý định qua phim phê phán xã hội Việt Nam đương thời như việc ép duyên, mê tín dị đoan v.v...

 

Ðến đây có thể   nói đã chấm dứt giai đoạn khởi đầu của điện ảnh Việt Nam bắt đầu từ buổi chiếu phim đầu tiên tại Hà Nội ngày 28 tháng 4 năm 1899 cho đến 3 bộ phim chết yểu của Hãng Việt Nam phim vào năm 1939. Ðiều đáng chú ý là đến năm 1940 số lượng rạp chiếu bóng ở Việt Nam đã vượt quá con số 60, trên dân số lúc đó là 20 triệu dân, chủ yếu tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Huế. Ðiện ảnh không còn xa lạ với người dân đô thị ở Việt Nam. Lẽ ra trước sự hâm mộ của đông đảo khán giả đối với bộ môn nghệ thuật mới mẻ này, nền sản xuất phim Việt Nam đã có thể có những bước tiến mạnh mẽ hơn. Tiếc rằng điều đó đã không xẩy ra. Một mặt vì sự non kém, thiếu sự học hỏi chuẩn bị đến nơi đến chốn của những người làm phim Việt Nam, một mặt do chính quyền thực dân Pháp cũng không khuyến khích, thậm chí còn kiềm chế để dành lợi thế cho các công ty kinh doanh phim, nhập khẩu phim mà chủ là những người Pháp. Một số rạp chiếu phim còn bị chính quyền thực dân đe doạ không cho   nhập phim nước ngoài nếu chiếu phim do người Việt Nam sản xuất. Dầu sao trong quãng thơì gian từ năm 1924 đến 1939 người Việt Nam đã sản xuất được một số phim. Những bộ phim đó đến nay không còn dấu tích gì, không ai bảo quản chúng. Tất   cả những gì được viết ra trên đây đều dựa vào báo chí, hồi ký của những người trong cuộc, lời kể của một số ít người đến nay còn sống. Cũng không thể ghi nhận gì về giá trị nghệ thuật của những bộ phim trên. Có thể nói chúng là những sáng tác nghiệp dư của những người giầu nhiệt tình đối với môn nghệ thuật này hơn là những tác phẩm của các nhà điện ảnh chuyên nghiệp. Có thể nói bước khởi đầu của điện ảnh Việt Nam là một bước khởi đầu đầy gian nan và không mấy hứa hẹn .

 
Copyright 2006 By IVCE . All Rights Reserved. Designed & Developed By WorldSoft