Warning: eregi() [function.eregi]: REG_EMPTY in /home/37/97/2929737/web/includes/internal/Functions.php on line 125

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/37/97/2929737/web/includes/internal/Functions.php:125) in /home/37/97/2929737/web/init.php on line 132
Welcome To IVCE
 The Institute for Vietnamese Culture & Education
 
 Coming up events
 
 1. Screening of ""Facing to the ocean: selected documentaries from Vietnam"

 
 
 
 
 
 NhipSong Magazine
 
Giữ gìn và phát triển tiếng Việt- GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng
 
 

Vấn đề giữ gìn và phát triển tiếng Việt đã từ khá lâu được nhiều người Viêt Nam  ta quan tâm, và mỗi người, mỗi giới đều có thể có những cách nhìn nhận, cách tiếp cận của mình. Là một người làm công tác ngôn ngữ học, bản thân chúng tôi cũng đã nhiều lần đề cập đến vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau, hoặc là về ngữ âm, hoặc là về từ ngữ, hoặc là về chữ viết. Bài này muốn đặt vấn đề xem xét một cách khái lược công việc giữ gìn và phát triển tiếng Việt từ những góc độ liên quan đến đặc điểm tiếng Việt và chữ Việt trong diễn trình lịch sử của nó: Một là, từ góc nhìn tiếp xúc ngôn ngữ. Hai là, từ góc nhìn loại hình ngôn ngữ. Ba là, từ góc nhìn về tính thống nhất trong đa dạng của ngôn ngữ. Và bốn là, từ góc nhìn chức năng xã hội của ngôn ngữ. Mấy cách nhìn này cũng sẽ là tiền đề cho việc xem xét một số vấn đề cụ thể đặt ra cho việc chuẩn hoá tiếng Việt và chữ Việt hiện nay.

 

Những góc nhìn cần thiết

 

1. Tiếng Việt của chúng ta có một lịch sử vô cùng lâu đời, có thể đã bắt đầu hình thành nên một ngôn ngữ Việt tộc ngay từ thời các vua Hùng dựng nước. Vào thời bấy giờ, một bộ phận khá lớn những tộc người có nguồn gốc Nam Á (dòng Môn - Khmer) đã từ vùng núi tràn xuống trung du và đồng bằng sông Hồng, hỗn cư và hoà nhập với những tộc người gốc Thái - Kadai (dòng Tày - Thái), hình thành nên cộng đồng người Việt với cơ tầng ngôn ngữ Mon - Khmer và Tày - Thái Trong tiếng Việt ngày nay vẫn còn lưu giữ không ít các ngữ tố gốc Môn - Khmer (như: mặt, mắt, mũi, miệng, chân, tay, một, hai, ba, bốn, năm, chim, nước, trời, đất,…) và gốc Tày - Thái (như: cày, bừa, cuốc, đồng, đồi, cám, gạo, cháo, dòm, giàm, chạc, dứt, cá, gà,…).  Ðó chính là nguồn gốc, mà cũng là lần tiếp xúc ngôn ngữ đầu tiên để hình thành nên tiếng Việt (mà thời bấy giờ còn là ngôn ngữ chung Việt-Mường-Chứt), và thứ ngôn ngữ đó đã được ông cha ta giữ gìn và phát triển sau này trong suốt chiều dài của lịch sử đất nước từ các vua Hùng dựng nước cho đến thời Bắc thuộc Trung Hoa (từ tiếngViệt-Mường chung đến tiếng Việt và tiếng Mường). Với một vốn liếng ban đầu như vậy, tiếng Việt đã đủ bản lĩnh để tiếp xúc với tiếng Hán (chủ yếu là với các phương ngữ miền Nam Trung Hoa), và không để cho tiếng Hán đồng hoá, ngược lại đã tiếp thu và đồng hoá vào tiếng nói của mình hàng loạt các yếu tố Hán ngữ thời bấy giờ (như: bùa, búa, buồm, buông, buồng, đỡ, đũa, đục, đuốc, mây, mùa, múa, mưa,…). Từ thế kỉ thứ X trở đi, sau khi giành được quyền độc lập xây dựng và mở mang đất nước, các thế hệ ông cha chúng ta đã chủ động vay mượn và sử dụng ngôn ngữ chữ viết của người Trung Hoa qua cách đọc Hán Việt, một cách đọc chữ Hán dần dần thoát li khỏi ngữ âm của người Hán, mà mang đậm màu sắc ngữ âm của người Việt. Cái thuật ngữ "âm Hán Việt" vì vậy mà rất thích hợp cho hệ thống ngữ âm nàỵ. Nhờ có âm Hán Việt, việc du nhập các từ ngữ Hán vào tiếng Việt hầu như không gặp bất cứ một trở ngại nào. Chính đây là con đường thuận lợi cho việc làm giàu vốn từ ngữ tiếng Việt, đặc biệt là lớp từ ngữ thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần của người Việt Nam. Nhưng mặt khác, sự dễ dàng cũng thường đưa đến sự dễ dãi của không ít người muốn bê nguyên xi từ ngữ Hán vào tiếng Việt thay vì tìm kiếm những từ ngữ thích hợp đã sẵn có trong tiếng Việt, và điều này cũng đồng nghĩa với thiếu tinh thần tự chủ trong sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ dân tộc. Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX trở đi, ngoài tiếng Hán (qua âm Hán Việt), tiếng Việt còn tiếp xúc với các ngôn ngữ phương Tây, nhất là tiếng Pháp, rồi tiếng Nga, và gần đây là tiếng Anh.

 

Có thể thấy rằng bộ mặt và cốt cách của tiếng Việt ngày nay là kết quả của tất cả những cuộc tiếp xúc ngôn ngữ như thế đã diễn ra trong suốt chiều dài của lịch sử nước ta. Ðể có được một ngôn ngữ như tiếng Việt ngày nay, ông cha chúng ta từ thế hệ này sang thế hệ khác luôn luôn một mặt là chủ động tiếp thu những gì cần thiết và mặt khác là từ chối tất cả những gì gây rối ren cho tiếng mẹ đẻ của mình. Cho nên, giữ gìn và phát triển tiếng nói và chữ viết của dân tộc được đặt ra một cách thường trực và trước hết là trong quan hệ tiếp xúc văn hoá và ngôn ngữ với các dân tộc khác, bất kể là xa hay gần, phương Ðông hay phương Tây.

 

2. Nói đến công việc giữ gìn và phát triển ngôn ngữ dân tộc, không thể không lưu ý đến những đặc điểm loại hình của tiếng Việt và chữ Việt. Trong suốt quá trình phát triển của mình, và nhất là trong trạng thái hiện tại, tiếng Việt mang những đặc trưng loại hình khác hẳn với các ngôn ngữ phương Tây, cụ thể là các ngôn ngữ châu Âu như Pháp, Nga, Anh. Ðó là những ngôn ngữ biến hình, trong đó điều chủ yếu là dạng thức của từ luôn luôn biến đổi trong câu, và độ dài của nó là không đo đếm theo âm tiết. Ðiều này khác hẳn với tiếng Việt và tiếng Hán, tuy hai ngôn ngữ này không thuộc cùng ngữ hệ, song chúng lại đồng nhất về mặt loại hình: cả hai đều là những ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập - âm tiết tính (cơ chế đơn tiết), trong đó mỗi âm tiết mang thanh điệu hầu như đều có nghĩa, đều có thể dùng như một từ, mà dạng thức luôn luôn ổn định, và các đơn vị từ ngữ  đều có thể đo đếm theo từng âm tiết. Từ đặc điểm loại hình cơ bản này, giữa tiếng Việt và tiếng Hán sẽ tìm thấy những vấn đề chung khi phải cạnh tranh và tiếp thu các yếu tố du nhập từ các ngôn ngữ phương Tây.

 

Với chữ viết cũng có vấn đề loại hình, nhưng ở đây tình hình có hơi khác. Từ thế kỉ XIII, theo hình mẫu chữ Hán, cha ông chúng ta đã tạo ra chữ Nôm để viết nên những bài thơ, bài văn bằng tiếng Việt. Nếu như các học giả chưa thể phát hiện được thêm những cứ liệu gì mới về chữ Việt cổ xưa hơn nữa, thì chữ Nôm biểu âm biểu ý theo kiểu chữ Hán là hệ thống văn tự đầu tiên của tiếng Việt. Nhờ hệ thống văn tự này mà ngày nay chúng ta có được Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du và hàng nghìn tác phẩm quý giá khác trong kho tàng văn hoá thành văn của nước ta, liên tục xuất hiện cho đến nửa đầu thế kỉ XX. Có lẽ số phận của chữ Nôm sẽ khác đi, nếu như người phương Tây không tìm đến phương Ðông, trong đó có nước ta. Theo hình mẫu các hệ thống chữ viết phương Tây, trong sự cộng tác hữu hiệu giữa các giáo sĩ Dòng Tên với đạo hữu bản xứ, một hệ thống chữ viết ghi âm tiếng Việt theo các chữ cái La-tinh ABC đã được hình thành từ giữa thế kỉ XVII và đi đến hoàn thiện vào cuối thế kỉ XVIII. Trong suốt thời gian đó, trong đời sống văn hoá của người Việt Nam, chữ Nôm vẫn chiếm ưu thế hơn chữ Quốc ngữ. Nhưng dần về sau, do ưu điểm tiện phổ cập của mình, chữ Quốc ngữ ngày càng được nhiều người biết đến và sử dụng, lại được cả các đoàn thể yêu nước (như Ðông Kinh Nghĩa Thục, rồi phong trào Truyền bá Quốc ngữ) cổ động, khuyến khích, chữ Quốc ngữ đã dần dần chiếm địa vị độc tôn và từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thì trở thành chữ viết chính thức của nước ta.  Do chỗ tương đồng với chữ viết của các ngôn ngữ phương Tây về mặt loại hình (phiên âm theo chữ cái La-tinh ABC), nên sự du nhập các từ ngữ phương Tây vào văn bản tiếng Việt hầu như không có rào cản nào đáng kể, một điều không có được đối với chữ Hán hay chữ Nôm. Chính đây là nhân tố vừa tích cực lại vừa tiêu cực trong việc tiếp nhận những yếu tố ngoại lai từ văn bản các ngôn ngữ phương Tây (đặc biệt là tiếng Anh, một ngôn ngữ rất phổ dụng trên thế giới hiện nay) vào văn bản tiếng Việt (đặc biệt là trong việc phiên âm, chuyển tự, viết nguyên dạng các từ ngữ nước ngoài, cũng như trong việc tạo ra hoặc chuyển dụng các tắt tố và danh ngữ tắt từ ngoại văn). Ðiều này cũng tương tự như những gì đã nói ở trên về vai trò của âm Hán Việt, nhưng một đằng là phương tiện ngữ âm trong quan hệ với tiếng Hán cùng loại hình cơ cấu ngôn ngữ; một đằng là phương tiện chữ viết trong quan hệ với các ngôn ngữ phương Tây khác biệt về loại hình ngôn ngữ.

 

3. Tiếng Việt hiện nay là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn cõi đất nước Việt Nam, nhưng đồng thời trong lòng nó cũng chấp nhận những màu sắc địa phương ít nhiều khác biệt. Một điều dễ nhận thấy là giọng nói của cư dân miền đồng bằng sông Hồng và giọng nói của cư dân miền đồng bằng sông Cửu Long, tuy có nhiều điểm khác biệt, song khi tiếp xúc trò chuyện với nhau, không cần phải pha giọng sửa tiếng, họ vẫn có thể hiểu được nhau không mấy khó khăn.  Một sự thống nhất ngôn ngữ như vậy là không thể có được trong nội bộ tiếng Hán, chẳng hạn như giữa người Bắc Kinh và người Thượng Hải hay người Quảng Ðông. Bởi vậy, đối với tiếng Hán hiện đại, người ta có nhu cầu xác lập một tiếng phổ thông dùng cho toàn quốc, mà nền tảng của nó là các phương ngữ Bắc, lấy âm Bắc Kinh làm hệ âm chuẩn mực. Ðối với tiếng Việt, cũng đã từng có ý kiến cho rằng phải lấy phương ngữ Bắc làm cơ sở và lấy âm Hà Nội làm âm tiêu chuẩn cho tiếng Việt văn hoá toàn dân. Một quan niệm như vậy là có phần máy móc và không thật sự cần thiết đối với tiếng Việt. Ðành rằng tiếng Việt có xu hướng ngày càng đi tới thống nhất hơn, nhất là trong điều kiện dân trí ngày càng nâng cao, các phương tiện thông tin ngày càng được phổ cập, song cái hình ảnh thống nhất của tiếng Việt không phải là một phương ngữ cụ thể, lại càng không phải là một hệ âm chuẩn thực tế, cho dù hệ ngữ âm đó là giọng nói của thủ đô Hà Nội đi chăng nữa. Dễ dàng nhận thấy rằng trong vốn từ tiếng Việt hiện nay, có không ít những từ ngữ song tiết là được tạo thành bằng cách ghép một yếu tố của phương ngữ Nam với một yếu tố của phương ngữ Bắc (chẳng hạn: tiêu xài, trông coi, to bự, béo mập, ốm đau, kêu la, mau lẹ, …). Lại cũng dễ dàng nhận thấy nhiều nhà trí thức quê miền Trung hay miền Nam, mặc dù sống giữa thủ đô Hà Nội nhiều năm, đã phát âm rất chuẩn các thanh điệu và có thể cả các vần cái Hà Nội, song vẫn không muốn theo khuôn mẫu Hà Nội mà bỏ đi các âm đầu uốn lưỡi tr-, r-, s-. Liên quan với tâm thức ngữ âm này có phần chắc là sự tồn tại của hệ thống chữ Quốc ngữ đã được thống nhất và ổn định từ khá lâu ở nước ta. Quả thực, chữ Quốc ngữ hiện hành đã phản ánh một hệ thống ngữ âm khá hoàn chỉnh và chặt chẽ, bao quát được khả năng phân biệt tối đa mà người nói tiếng Việt ở các địa phương có thể thực hiện được trong sự bù đắp cho nhau. Chính đó là hình ảnh thống nhất của ngữ âm tiếng Việt đang tồn tại trong tâm thức của toàn dân Việt Nam từ Nam chí Bắc, mặc dầu trong phát âm thực tế, họ vẫn có thể trung thành với giọng nói địa phương nếu không thực sự có nhu cầu phải uốn nắn theo hình ảnh thông nhất đó (khi phải tiếp xúc với người địa phương khác chẳng hạn). Khẳng định tình trạng này không có nghĩa là buộc các phát thanh viên trên đài phát thanh và đài truyền hình Trung ương phải phát âm theo hệ thống hoàn chỉnh của chữ Quốc ngữ. Ngược lại, một cách xử lí thực tế (có thể theo cách phát âm thuần tuý Hà Nội, không loại trừ một số chương trình có cả cách phát âm của Huế hay Sài Gòn) như hiện nay là hoàn toàn thích hợp. Các đài phát thanh địa phương thì lại càng có thể linh hoạt hơn.

 

Nếu như với phát âm, người Việt hoàn toàn có thể chấp nhận một sự thống nhất trong đa dạng như thế, thì đối với chữ viết, sự thống nhất cần đòi hỏi cao hơn nhiều, và trong khá nhiều trường hợp là phải đạt tới mức độ tuyệt đối. Không thể có chuyện bám sát vào cách phát âm thực tế của cư dân miền Bắc mà viết, chẳng hạn Nguyễn Trãi Nguyễn Chãi. Ngược lại, cũng không thể chấp nhận viết là Nguyểng Trải theo cách phát âm ở miền Trung và miền Nam. Chính là trong những trường hợp này, nguyên tắc ngữ âm học vốn là một nguyên tắc khá cơ bản cho chính tả của một hệ thống chữ viết phiên âm, lại tỏ ra không mấy hiệu lực. Chính tả của chữ Quốc ngữ vì vậy mà cần phải đề cao những nguyên tắc khác (ngoài nguyên tắc ngữ âm học), như nguyên tắc phân biệt theo ngữ nghĩa, nguyên tắc phân biệt theo truyền thống, v.v. Thiết tưởng những điều vừa trình bày trên đây về hệ thống ngữ âm thống nhất của tiếng Việt và về nguyên tắc chính tả của chữ Quốc ngữ là hoàn toàn  phù hợp với thực tiễn ngôn ngữ và chữ viết của nước ta. Cũng cần nói thêm rằng, việc viết tách rời từng âm tiết như chữ Quốc ngữ hiện hành hoàn toàn không phải là một khiếm khuyết cần bổ cứu, mà thực ra đó là cách xử lí phù hợp với cơ chế đơn tiết (đơn lập - âm tiết tính) của tiếng Việt, là một sự kế thừa cần thiết cách viết đơn tiết của chữ Nôm. Nếu chấp nhận những quan niệm như vậy thì những cố gắng không mệt mỏi và rất mực chân thành của một số người nhằm chỉ trích những thiếu sót của chữ Quốc ngữ hiện hành và từ đó đề xuất những phương án chữ viết mới cho tiếng Việt, e rằng tất cả đều là không thật sự cần thiết đối với nhu cầu của thực tiễn ngôn ngữ và chữ viết ở nước ta hiện nay.

 

4. Trên dải đất hình chữ S của nước Việt Nam chúng ta, hiện có 54 dân tộc cùng chung sống trong một cộng đồng dân tộc thống nhất.  Trong đó, hầu hết các dân tộc có ngôn ngữ riêng, và có đến 27 dân tộc đã có chữ viết riêng. Tuy nhiên, trình độ phát triển của các ngôn ngữ và mức độ hoàn thiện, phổ biến của các bộ chữ dân tộc là không đồng đều. Ðạt tới mức độ phát triển cao nhất và được sử dụng phổ biến nhất trong cộng đồng là tiếng Việt. Tiếng Việt và chữ Việt của dân tộc có số dân đông nhất - dân tộc Việt (Kinh), đã từ lâu, trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trên thực tế đã trở thành ngôn ngữ và chữ viết chung, một cách hoàn toàn tự nguyện chứ không hẳn là theo luật định, của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được sử dụng rộng rãi trong mọi mặt đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hoá) nước ta ngày nay. Bởi vậy, mặc dầu chưa hề được quy định trong hiến pháp hay luật ngôn ngữ của nước ta, song trên thực tế, chữ Việt theo mẫu tự La-tinh từ lâu đã được quen gọi là chữ Quốc ngữ , và tiếng Việt cũng đã thực sự đã trở thành ngôn ngữ chính thức của nước Việt Nam, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Trong một đất nước có nhiều dân tộc và nhiều ngôn ngữ, thì  một ngôn ngữ nào trong số đó trở thành ngôn ngữ chung, được cộng đồng các dân tộc sử dụng rộng rãi trong nhiều môi trường giao tiếp khác nhau, là một điều tất yếu mang tính tự nguyện và khách quan lịch sử. Quan hệ giữa ngôn ngữ chính thức của một nước với các ngôn ngữ còn lại trong cộng đồng các dân tộc nước đó về nguyên tắc là bình đẳng, mặc dù không phải là không có sự khác biệt trong chức năng xã hội theo nhu cầu thực tế trong sự tồn tại và phát triển của các dân tộc.

 

Trên thế giới có hàng nghìn ngôn ngữ khác nhau, nhưng không phải ngôn ngữ nào cũng đạt tới một mức độ phát triển như nhau. Căn cứ để đánh giá mức độ phát triển của một ngôn ngữ trước hết là xét xem bản thân nó có được đa dạng hoá về phương thức tồn tại hay không, có phân biệt các phong cách ngôn từ hay không, có đáp ứng đầy đủ các chức năng xã hội hay không. Trên thực tế, có những ngôn ngữ cho đến nay vẫn ở trong dạng khẩu ngữ, không có chữ viết và do đó cũng không có dạng thức ngôn ngữ viết cho mình. Cũng có ngôn ngữ tuy có ngôn ngữ viết, nhưng sự phân hoá giữa viết và nói chưa cao, và cũng chỉ sử dụng trong phạm vi hạn hẹp (như ghi việc nhà việc làng, ghi chép dân ca, tục ngữ, v.v.), nghĩa là chưa phát triển đầy đủ các phong cách ngôn từ (như: nghệ thuật, khoa học, hành chính, báo chí, v.v.). Xét về chức năng xã hội, có ngôn ngữ chỉ chủ yếu dùng trong sinh hoạt gia đình, trong tín ngưỡng (cúng bái) và văn nghệ dân gian mà thôi. Cũng có ngôn ngữ phát triển hơn, được sử dụng trong nhà trường (tuỳ theo cấp học). Những ngôn ngữ phát triển ở mức độ cao có thể được sử dụng trong mọi hoạt động xã hội, kể cả trên các phương tiện truyền thông hiện đại của quốc gia và thậm chí là quốc tế.  Ngôn ngữ của các dân tộc ở nước ta cũng theo đó mà có sự phân biệt ở những mức độ phát triển khác nhau. Tuy nhiên, không phải mọi ngôn ngữ đều có nhu cầu và điều kiện để có thể phát triển đồng đều như nhau. Ðó là một thực tế khách quan. Một số ngôn ngữ của các dân tộc ở Việt Nam hiện nay chẳng những ngưng trệ không phát triển, mà còn có nguy cơ bị mai một dần, vì số người nói các thứ tiếng đó hiện còn quá ít (như các ngôn ngữ Ơ Ðu, Rơ Năm, Kháng, Mảng, Mày, Rục, Poọng, La Chí, Cơ Lao, …). Nhưng không vì thế mà để cho một tộc người hay ngôn ngữ như thế tiêu vong đi, bởi vì sự hiện diện của một tộc ngưòi cùng ngôn ngữ (và có thể cả chữ viết nữa) của họ là một chứng tích văn hoá của đất nước và của loài người, cần được giữ gìn và bảo vệ lâu dài. Riêng về tiếng Việt thì hiện nay nó đã nghiễm nhiên được thừa nhận là một ngôn ngữ phát triển ở mức độ khá cao, là của cải vô cùng lâu đời và quý báu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ðó chính là kết quả của công cuộc giữ gìn và phát triển ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh bảo vệ và phát triển đất nước ta.

 

B. Mấy vấn đề chuẩn hoá

 

Với tư cách là một ngôn ngữ phát triển đa dạng, đa phong cách và đa chức năng, tiếng Việt là một thực thể chứa đựng nhiều tầng nhiều lớp những đơn vị và cách thức phong phú và đa chiều theo nhiều mối quan hệ khác nhau hết sức tế nhị. Ðồng thời, những đặc tính loại hình của tiếng Việt và chữ Việt, những tâm thức ngôn ngữ mang tính cộng đồng của người bản ngữ, cũng là những nhân tố chi phối mọi hiện tượng chuẩn hoá ngôn ngữ và chữ viết đã và đang đặt ra. Ngôn ngữ là một cơ thể sống, luôn luôn chuyển động mềm dẻo trong sự phát triển tự thân dưới sự tác động có ý thức của người sáng tạo và sử dụng nó. Bởi vậy mọi vấn đề có liên quan đến công việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và làm cho nó phát triển lành mạnh đều cần phải được đặt ra và xử lí một cách thận trọng, mềm dẻo chứ không thể đơn giản và cứng nhắc được. Quan niệm như vậy là hoàn toàn phù hợp với phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá mà giới trí thức Việt Nam vẫn luôn hướng tới trong nhiều thập kỷ qua. Những điểm trình bày tiếp sau đây sẽ là những vấn đề cụ thể liên quan với những cách nhìn và nhận định trên đây.

 

1.  Như mọi người đều biết, việc cố gắng tìm kiếm những từ ngữ thuần Việt dễ hiểu để thay thế cho những từ ngữ Hán Việt bị lạm dụng, nhiều khi là thực sự cần thiết và đạt kết quả tốt , như máy bay, sân bay đã đẩy lùi được phi cơ, phi trường, v.v. Văn nhân thời xưa khi còn viết bằng chữ Nôm, đã có ý thức đầy đủ trong việc dịch thẳng các từ ngữ gốc Hán sang tiếng Việt, góp phần làm trong sáng câu văn tiếng ta. Ðiều này có thể thấy rõ trong sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, v.v.  Mặc dầu vậy, không phải mọi cố gắng theo hướng này đều được ghi nhận lâu dài. Chẳng hạn, trong bản dịch sang chữ Nôm từ nguyên tác chữ Hán tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, dịch giả (tương truyền là Nguyễn Thế Nghi, cuối thế kỉ XVI) đã dịch khá thành công nhiều từ ngữ tiếng Hán như: cung trạng > tờ cung, đại sách > chước cả, đại kế  > mưu lớn, kiềm thúc > thắt nắm, u tình > lòng nhẹm, v.v. Bên cạnh đó cũng có không ít trường hợp trực dịch các từ ngữ Hán Việt như: tráng sĩ, tân lang, tiền bối, tiền đồ, hoành hành, bất đắc dĩ… thành ra các tổ hợp thuần Việt mà ngày nay nghe rất lạ tai:  sĩ mạnh, chàng mới, tác trước, đường trước, ngang làm, chẳng đ,ược chớ… Tình hình tương tự như vậy không phải là không tìm thấy trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và cả Nguyễn Du. Cho nên, trong khá nhiều trường hợp thì điều quan trọng không phải là thuần Việt đẩy lùi Hán Việt để giành lại sự “trong sáng” cho tiếng Việt, mà là một sự phân công sử dụng theo phong cách chức năng. Ðó là lí do tại sao bên cạnh đàn bà, vợ, con gái, vợ con còn có phụ nữ, phu nhân, nữ nhi, thê nhi, v.v. Một đóng góp quan trọng của các ngữ tố Hán Việt chính là với một số lượng có hạn và thông dụng các ngữ tố như thế, chúng ta có thể trực tiếp tạo nên vô số những từ ngữ Hán Việt nội sinh, không phải vay mượn từ tiếng Hán, như: bao cấp, bức xúc, cầm cự, cấu trúc, dung môi, dung túng, đề đạt, đối tác, đồng thuận, hội thảo, khả thi, khám bệnh, khám nghiệm, khiêu khích, kích cầu, kích lhích, môi sinh, môi trường, tiếp viên, trưởng đoàn, ứng viên, ứng xử, v.v. Ðặc biêt đáng lưu ý là vốn chữ Hán cơ bản với cách đọc Hán Việt quen thuộc đã trở thành một phương tiện quan trọng giúp các nhà khoa học nước ta thực hiện được việc phiên chuyển và tạo lập các thuật ngữ khoa học một cách thuận lợi, đại loại như: nhiệt kế, vôn kế, vôi hoá, trẻ hoá, sở chỉ, sở biểu, căn tố, phụ tố, biến tố,  v.v. Bởi vậy, để có thể nắm hiểu được, sử dụng tốt và làm giàu cho tiếng Việt, người Việt Nam có học vấn phổ thông có lẽ cần phải được trang bị một ít vốn liếng chữ Hán (với âm Hán Việt) và chữ Nôm tối thiểu nào đó ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

 

2. Một vấn đề gây tranh cãi khá náo nhiệt trong những năm gần đây là nên chuyển các tên riêng nước ngoài (chủ yếu là nhân danh, địa danh) vào văn bản tiếng Việt như thế nào. Sở dĩ gây tranh cãi, chỉ là vì có những chủ trương đưa ra theo kiểu loại trừ, chỉ thế này mà không được như thế kia. Họ chia làm hai nhóm: một nhóm chỉ chấp nhận để nguyên dạng (hoặc chuyển tự), một nhóm khác chỉ chấp nhận phiên âm (trong nhóm này còn có bất đồng về vấn đề viết liền, viết cách có dấu nối hay không có dấu nối…). Mặc dù chữ viết đòi hỏi phải được thống nhất cao độ, song một khi đụng chạm đến sự phân biệt các phong cách ngôn từ và môi trường sử dụng khác nhau của ngôn ngữ, thì chữ viết phải thể hiện cho được sự phân biệt này. Bởi vậy, thiết nghĩ trong vấn đề này không thể cứng nhắc chấp hành theo một kiểu được. Với các văn bản tiếng Việt thuộc các phong cách nghệ thuật, báo chí, hành chính (là những loại văn bản có tính đại chúng cao), thì trên đại thể có thể và cần thiết dùng tên riêng nước ngoài theo cách phiên âm (tốt nhất là với dấu nối các âm tiết, cho dễ đọc). Còn với các văn bản khoa học, đặc biệt là khoa học chuyên sâu, thì để nguyên dạng hay chuyển tự là cách lựa chọn thích hợp nhất. Ðiều này gắn liền với tính chính xác của ngôn từ khoa học, lại cũng giúp cho việc tra tìm những thông tin liên quan với tên riêng được nhắc tới. Vì vậy mà các hệ thống tra tìm thông tin (như ở thư viện chẳng hạn) cũng nên theo cách để nguyên dạng (hoặc chuyển tự) các tên riêng. Ngay cả ở các văn bản báo chí hay truyền thông, đôi khi vẫn có thể cần phải theo cách để nguyên dạng hoặc chuyển tự theo sự đòi hỏi phải kịp thời và trung thực, hoặc vì một lí do tế nhị nào đó trong ứng xử xã giao.

 

Phải chăng là thoả đáng nếu cho rằng "bê nguyên xi" tên riêng nước ngoài văn bản tiếng Việt là phá vỡ cơ chế đơn tiết của tiếng Việt, là làm vẩn đục văn bản tiếng Việt. Nếu quả như vậy thì lẽ nào người Nhật lại không biết giữ gìn sự trong sáng cho văn tự của họ, khi họ để cho các chữ Hán nguyên dạng ô vuông nghiễm nhiên hiện diện trong văn tự của nước Nhật, một quốc gia có nền văn hoá lâu đời và hiện nay đạt tới mức độ phát triển rất cao trên thế giới. Sự "không thuần nhất" của văn tự Nhật Bản được chấp nhận, có thể vì để nguyên dạng chữ Hán trên văn bản của họ là cần thiết cho sự nhận diện từ ngữ. Tên riêng là lĩnh vực không nhất thiết phải Việt hoá, và với tư cách là một hệ thống văn tự dùng chữ cái ABC, chữ Quốc ngữ của ta có nhiều lợi thế cho việc để nguyên văn hoặc chuyển tự các tên riêng từ các ngoại ngữ phương Tây. Bởi vậy, tuyệt đối hoá một cách viết nào đó là tự làm nghèo khả năng biểu đạt của ngôn ngữ và chữ viết nước ta. Riêng với quy tắc phiên âm, sẽ có không ít vấn đề cần phải xử lí, bởi vì không dễ gì có thể xác lập và nắm vững được các quy tắc phiên chuyển từ một thứ ngoại văn nào đó sang tiếng Việt và chữ Việt, và vì vậy khó lòng có thể đạt tới sự thống nhất thực sự trên chữ viết. Trong vấn đề này, và có lẽ trong nhiều vấn đề chính tả khác nữa, điều quan trọng trước hết là bảo đảm cho được sự nhất quán trên một văn bản, trong một loại phong cách ngôn từ.

 

3. Viết tắt từ ngữ và tạo lập tên gọi bằng các tắt tố theo chữ cái là một hiện tượng khá nổi bật trong các loại văn bản tiếng Việt hiện nay. Dễ dàng nhận thấy sự cần thiết của những đơn vị từ ngữ viết tắt như vậy, do chỗ chúng thực hiện nguyên tắc tiết kiệm trong tạo lập và sử dụng ngôn từ, đặc biệt trong điều kiện phát triển mạnh mẽ những nhu cầu định danh trong mọi mặt hoạt động của xã hội nước ta hiện nay. Ðây cũng là tình hình chung đối với các ngôn ngữ sử dụng chữ viết phiên âm trên thế giới. Ðiều khiến nhiều người quan tâm là đây đó, nhất là trên báo chí, đã có sự lạm dụng các định danh tắt, có sự lộn xộn gây trở ngại cho việc tiếp nhận văn bản. Những nghiên cứu sơ bộ cho thấy rằng, viết tắt từ ngữ không phải thích ứng như nhau đối với mọi phong cách ngôn từ. Sự khác biệt dễ thấy nhất là giữa phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (mật độ tên tắt thấp) với phong cách báo chí thông tấn (mật độ tên tắt cao). Bên cạnh đó lại có vấn đề xác lập các tắt tố. Trong chuyện này không thể đòi hỏi chỉ dùng một tắt tố ổn định cho một nguyên dạng có trước. Chẳng hạn, Việt Nam trên thực tế đã được tắt hoá thành VN (như trong VNÐ), VINA (như trong VINAMILK), VI (như trong VISSAN), VIET (như trong VIETCOMBANK). Ðây không thể xem là lộn xộn, mà thực sự là cần thiết cho việc tạo lập các tên tắt sao cho cân đối và hài hoà về cấu trúc, đồng thời giúp tạo nên sự phân biệt cho các tên tắt. Trong thành phần các tên tắt đó, nhiều khi không chỉ là thuần Việt, mà có thể chấp nhận những tắt tố ngoại lai, như -IM (nhập), -EX (xuất), v.v. Lại còn vấn đề đọc tên các từ ngữ viết tắt đó ra sao, theo âm Việt hoặc tên gọi chữ cái chữ Quốc ngữ ("a", "bê, "xê") hay theo cách gọi của nguyên ngữ. Nói chung, đối với các tắt tố và tên tắt nội sinh, chỉ cần đọc theo âm Việt và tên gọi chữ Việt. Còn đối với tắt tố và tên tắt ngoại nhập thì, mặc dù trên đại thể, trong sự giao tiếp giữa người Việt với nhau, cũng nên theo tên gọi chữ Việt (như WTO nên đọc là "vê-kép tê ô"), nhưng không loại trừ không ít trường hợp vẫn nên tôn trọng thói quen quốc tế. Có thể nhận thấy rằng, hệ thống chữ Quốc ngữ với tên gọi chữ cái theo tập quán quốc tế ("a", "bê", "xê", chứ không "a" , "bờ", cờ") là một thuận lợi đáng kể cho việc tạo lập các từ ngữ viết tắt nội sinh cũng như tiếp thu các tắt tố và từ ngữ viết tắt ngoại nhập. Ðây là điều mà chữ Hán, chữ Nôm và nhiều thứ chữ khác không có được.

 

4. Khi bàn đến sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt, không ít người tỏ vẻ bi quan và sốt ruột. Có lẽ sẽ lạc quan hơn, hay ít ra cũng bớt bi quan đi, nếu chúng ta nhìn nhận thực trạng tiếng Việt một cách toàn diện hơn. Kể ra cũng có nhiều hiện tượng gọi là tiêu cực, đáng quan ngại, thậm chí có người cho rằng "cần gióng lên tiếng còi báo động" trước nạn "xâm lấn một cách tàn bạo" của các yếu tố ngoại lai vào tiếng Việt (như dùng từ nước ngoài tràn lan ở đâu đó trên báo chí và trong giới trẻ mới bập bõm học ngoại ngữ). Báo động là cần thiết, song bên cạnh đó cũng cần bình tĩnh quan sát xem những mặt có thể gọi là tích cực, đầy tinh thần tự chủ và sáng tạo, đáng được ghi nhận trong sự phát triển lành mạnh của tiếng Việt hiện thời. Ðó có thể là sự bổ sung, hoàn chỉnh thêm những cách tạo câu văn phức tạp, đa dạng hơn, thích hợp cho văn xuôi hiện đại thuộc các phong cách khác nhau, đặc biệt là văn bản khoa học và hành chính. Ðó có thể là những định danh tắt cần thiết cho giao dịch quốc tế, cho hội nhập văn hoá và kinh tế với sự xuất hiện trên thương trường hàng loạt những biển hiệu, nhãn hiệu, thương hiệu … Ðó cũng là sự ra đời hàng loạt từ ngữ mới chính hiệu Việt Nam, phản ánh khá nhạy bén mọi mặt hoạt động của xã hội nước ta từ một vài thập kỉ lại đây (như: bàn phím, báo giá, bắt mắt, bột giặt, cá độ, cáo buộc, cáp quang, cầu mây, cây xăng, con trỏ, cơm hộp, dầu thô, dự thầu, đa chiều, đập hộp, đánh quả, đầu nậu, đề đóm, đĩa mềm, điện hoa, đội giá, đột quỵ, v.v.).

 

Có thể vững tin rằng tiếng Việt và người Việt bao giờ cũng mang trong mình một tinh thần tự chủ, một bản lĩnh vững vàng, một nội lực mạnh mẽ, bảo đảm cho dân tộc và ngôn ngữ của mình phát triển lành mạnh và trường tồn cùng đất nước.

 
Copyright 2006 By IVCE . All Rights Reserved. Designed & Developed By WorldSoft