Warning: eregi() [function.eregi]: REG_EMPTY in /home/37/97/2929737/web/includes/internal/Functions.php on line 125

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/37/97/2929737/web/includes/internal/Functions.php:125) in /home/37/97/2929737/web/init.php on line 132
Welcome To IVCE
 The Institute for Vietnamese Culture & Education
 
 Coming up events
 
 1. Screening of ""Facing to the ocean: selected documentaries from Vietnam"

 
 
 
 
 
 NhipSong Magazine
 
Ðược mùa đàn Nam Giao- GS. Phan Huy Lê
 
 

Ðàn Nam Giao là nơi hàng năm nhà vua tiến hành lễ tế cáo Trời - Ðất cầu cho quốc thái dân an, mùa màng phong đăng. Ðây là một trong những nghi lễ rất quan trọng thời chế độ quân chủ, phản ánh mối quan hệ giữa Thiên - Ðịa - Nhân và vai trò của Hoàng đế trong xã hội cùng đời sống tâm linh của cộng đồng cư dân. Tại kinh thành Huế, đàn Nam Giao còn được bảo tồn và gần đây đã được trùng tu, lễ tế Giao cũng đã được phục hồi. Nhưng ngoài đàn Nam Giao của kinh thành Huế, trong hai năm 2006-2007, khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện được thêm ba đàn Nam Giao của kinh thành Thăng Long (Hà Nội) thời Lý, Trần, Lê, của thành Tây Ðô (Thanh Hóa) thời cuối Trần và thời Hồ, của thành Hoàng Ðế (Bình Ðịnh) thời Tây Sơn. Vì vậy nhiều người coi hai năm qua đã "được mùa đàn Nam Giao". Sau đây tôi xin giới thiệu tóm lược về những phát hiện khảo cổ học này.

 

I. Ðàn Nam Giao của kinh thành Thăng Long

 

Theo Ðại Việt sử ký toàn thư, năm 1154 đắp đàn Viên Khâu ở phía nam thành Ðại La, trước đó năm 1137  và năm 1138 đã chép về Vu đàn. Ðại Nam nhất thống chí chép rõ hơn: "Ðàn Nam Giao nhà Lý ở địa phận huyện Thọ Xương, phía nam tỉnh thành, do nhà Lý xây đắp để làm chỗ tế trời. Nhà Lê đời Quang Thuận sửa lại, chính điện ba gian, hai bên đông tây vu mỗi bên đều bảy gian, có các tòa điện Canh Y (nơi thay áo). Trai cung, nhà bếp, nhà kho, bên trong, bên ngoài xây tường quanh cùng ba gian nghi môn. Ðời Quang Hưng dựng thêm điện Chiêu Sự. Ðời Cảnh Trị sửa lại, qui chế thì bốn góc có cột đá, cột rường xà bẩy, đều chạm rồng phượng, sơn son thếp vàng. Hồ Sĩ Dương soạn bài ký. Bản triều đầu đời Gia Long, dỡ lấy gạch đá để xây thành, chỉ còn đền chính ở phường Thịnh Yên. Năm Tự Ðức 11 (1858), đền bị cháy" [1] . Tấm bia do Hồ Sĩ Dương soạn mang tên "Nam Giao điện bi ký" dựng năm Vĩnh Trị 4 (1679) tại điện Nam Giao. Năm 1892 khi Công ty Ðông Dương về rừng và diêm (Société indochinoise forestière et des allumettes) xây dựng nhà máy diêm, tấm bia đã được di chuyển sang đầu ngõ phố Lê Ðại Hạnh giáp phố Thái Phiên và sau được đưa về bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng lịch sử. Ðây là một trong những tấm bia lớn, trang trí vào loại đẹp nhất của thời Lê trung hưng. Văn bia cho biết Tây Vương Trịnh Tạc (1657-1682) xây dựng lại điện Nam Giao khá qui mô, khởi công năm 1663 và hoàn thành năm 1664. Văn bia ghi "cột xà đều dùng nguyên liệu tốt, mực thước theo kiểu điện Trường Sinh, dỡ bỏ những cái cũ  kỹ, xây dựng công trình mới mẻ... Ðiện này xây gạch làm nền, đá dựng làm cột, đao cong rực rỡ, đầu rồng dưới mái lượn song song" [2]. Ðiện Nam Giao còn được ghi chép và miêu tả trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Ðôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Vũ trung tùy bút của Phạm Ðình Hổ và nhiều tư liệu khác. Nghi thức tế Giao thời Lê còn được Phan Huy Chú miêu tả cụ thể trong Lễ nghi chí của Lịch triều hiến chương loại chí [3].

 

Trên các bản đồ thành Ðông Kinh của tập Hồng Ðức bản đồ đều ghi nhận điện Nam Giao ở phía nam gần thành Ðại La. Trên bản đồ Hà Nội năm 1873, điện Nam Giao còn được thể hiện khá rõ gồm hai kiến trúc và về phía nam là một khu hồ khá rộng, ở vào vị trí gần cửa ô phía nam thành Ðại La tức ô Cầu Dền (phố Bạch Mai nối phố Huế hiện nay). Ðịa bạ năm Minh Mệnh 18 (1837) của thôn Thịnh Yên, tổng Kim Hoa, huyện Thọ Xương chép một khu đất ghi rõ "nguyên là nền đất điện Nam Giao, rộng 0.0.12.8.0.", tính ra là 308 m2. Trong địa bạ còn ghi "hai hồ liền nhau (xưa là hồ điện Nam Giao): 4.0.00.0.0., đông gáp y xứ thổ (xưa giáp phường Yên Thọ và chùa Ðế Thích), tây giáp y xứ hồ và địa phận thôn Văn Hồ (xưa giáp Trung Tiệp và điện Nam Giao, nam giáp địa phận thôn Vân Hồ (xưa giáp thành Ðại La), bắc giáp y xứ thổ và quan hồ thôn Yên Nhất (xưa giáp đường lớn)" [4]. Hai hồ liền nhau gọi là hồ điện Nam Giao đó rộng 4 mẫu tức 14.400 m2 [5].

 

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất chỉ định di tích của điện Nam Giao ở vào khoảng nhà máy cơ khí Trần Hưng Ðạo trước đây, gần cửa ô Cầu Dền thuộc quận Hai Bà Trưng, khoảng giữa các phố Mai Hắc Ðế, Thái Phiên, Ðoàn Trần Nghiệp, Bà Triệu.

 

Năm 2007 do yêu cầu xây dựng một số công trình ở đây, Viện Khảo cổ học được phép tiến hành khai quật ba đợt trên diện tích 1.100 m2. Kết quả khai quật khảo cổ học đã phát hiện được các di tích kiến trúc và di vật thời Lý, Trần và Lê. Di tích kiến trúc thời Lê đã bị phá hủy nặng nề qua hai lần xây dựng Nhà máy diêm và Nhà máy cơ khí, chỉ còn lại dấu tích sân nền lát gạch vồ đặc trưng thời Lê lẫn các loại gạch thời trước cùng nhiều di vật như ngói, gạch, tượng đầu nghê, sấu..., trong đó có ngói tráng men màu vàng in hình rộng 5 móng thời Lê sơ như đã tìm thấy ở Hoàng thành Thăng Long và Lam Kinh. Về thời Lý, Trần, đã tìm thấy di tích móng trụ sỏi và nhiều di vật như các loại gạch, ngói trang trí lá đề hình rồng, ngói ống với đầu ngói in hình hoa sen, đầu chim phượng, đồ gốm sứ. Ðặc biệt đã phát lộ di tích kiến trúc hình chữ công thời Lý với đường móng sành dài 22m, chỗ rộng nhất: 22,65m, hẹp nhất: 8,90m. Ðây là bình đồ kiến trúc hình chữ công sớm nhất được phát hiện trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Kiến trúc đã bị thời sau phá hủy nên di tích còn lại chỉ còn lớp móng mỏng chừng dưới 10cm.

 

Các nhà khoa học xác nhận di tích đã phát hiện là một bộ phận kiến trúc của đàn Nam Giao thời Lý, Trần, Lê, nhưng đã bị tàn phế nặng nề. Theo bản đồ Hà Nội năm 1873 thì vào thời Lê, phía nam kiến trúc là hồ Nam Giao. Theo điển chế, đàn Nam Giao hướng về phía nam. Qua các hội thảo, giới khoa học đã kiến nghị thành phố Hà Nội nên bảo tồn một bộ phận khu di tích này dưới dạng thức một "Công viên đàn Nam Giao", dựng bia ghi lại dấu tích đã phát lộ, lập hồ sơ khoa học đầy đủ về di tích đàn Nam Giao của kinh thành Thăng Long.     

                 

II. Ðàn Nam Giao thành Hoàng Ðế (Bình Ðịnh)

 

Trên đất Bình Ðịnh, còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hóa của vương quốc Chămpa, trong đó có kinh đô Vijaya mà các tư liệu Việt Nam thường gọi là thành Chà Bàn hay Ðồ Bàn. Từ sau năm 1471 khi lãnh thổ Ðại Việt được mở rộng vào đến bắc Phú Yên, tòa thành này bị hoang phế dần. Năm 1771 khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, năm 1773 chiếm giữ phủ Qui Nhơn rồi tiến ra giải phóng Quảng Ngãi. Trong cuộc chiến tranh ác liệt với quân Nguyễn, Qui Nhơn-Quảng Ngãi là vùng căn cứ vững chắc của quân Tây Sơn. Năm 1776 Nguyễn Nhạc tự xưng Tây Sơn Vương và tu sửa, đắp thêm thành Chà Bàn (Vijaya) làm đại bản doanh của quân Tây Sơn. Năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng Hoàng đế, đặt niên hiệu Thái Ðức và đổi tên thành Chà Bàn làm thành Hoàng Ðế. Thành Hoàng Ðế là kinh đô của chính quyền Trung Ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc cho đến năm 1793. Từ năm 1793 đến năm 1801 tại đây đã xẩy ra những trận đánh quyết liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh mà kết cục cuối cùng là năm 1801 quân Tây Sơn do tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng chỉ huy phải bỏ thành theo đường núi chạy ra bắc và đều bị bắt.        

 

Thành Hoàng Ðế chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng trong thời kỳ phát triển của phong trào Tây Sơn, từ 1778 đến 1786, thành Hoàng Ðế là đại bản doanh của quân đội Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đứng đầu. Tại đây, quân Tây Sơn đã xuất phát mở những cuộc tiến công đánh bại và lật đổ chính quyền chúa Nguyễn ở Ðàng Trong, đập tan cuộc xâm lược quân Xiêm tại Rạch Gầm-Xoài Mút đầu năm 1785 và tiến quân ra bắc chấm dứt chế độ thống trị của chúa Trịnh ở Ðàng Ngoài.

 

Thành Chà Bàn, Hoàng Ðế đã được ghi chép tóm lược trong nhiều tư liệu lịch sử và địa chí như Ðại Nam thực lục, Ðại Nam chính biên liệt truyện, Ðại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn, đặc biệt trong Ðồ Bàn thành chí của Nguyễn Văn Hiển và Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư. Ðầu thế kỷ XX, H. Parmentier khi khảo sát cac di tích Chămpa, cũng đã khảo tả sơ bộ thành Vijaya với những di tích còn trên mặt đất. Từ những năm 1978 trở lại đây, một số nhà sử học, khảo cổ học và cán bộ bảo tàng Bình Ðịnh đã tiến hành khảo sát, đo đạc di tích thành Hoàng Ðế, phân biệt với thành Vijaya và nhất là gần đây, khảo cổ học đã tiến hành khai quật thăm dò. Những tư liệu lịch sử kết hợp với di tích trên mặt đất và kết quả khảo sát khảo cổ học đã cung cấp nhiều thông tin cho phép phục hồi diện mạo của thành Hoàng Ðế thời Tây Sơn trên cơ sở sử dụng, tu sửa và mở rộng, xây dựng thêm thành Vijaya của Chămpa [6].

 

Thành Vijaya hình gần vuông, xây bằng gạch, chu vi khoảng 10 dặm (theo Nguyễn Văn Hiển), mở 4 cửa. Thành Hoàng Ðế hiện nay nằm trên địa phận thôn Nam Tân, Bắc Thuận xã Nhân Hậu và thôn Bả Canh, thị trấn Ðập Ðá huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Thành gồm ba lớp thành, thường gọi là thành Ngoại, thành Nội và Tử Cấm thành. Thành Ngoại dựa trên cơ sở thành Vijaya mở rộng thêm về phía đông đến 15 dặm, hình gần chữ nhật, tường thành bằng đá ong, nện đất chắc chắn, mở 5 cửa, về phía nam ngoài cửa Nam cũ gọi là cửa Tiền hay cửa Vệ về phía tây, mở thêm cửa mới về phía đông gọi là cửa Tân Khai. Thành Ngoại chu vi khoảng 7.500m. Thành Nội và Tử Cấm thành hoàn toàn do Tây Sơn xây dựng bằng đá ong, hình chữ nhật vuông vắn. Thành Nội chu vi gần 2.000 m, Tử Cấm thành chu vi hơn 800m. Kết quả khai quật khảo cổ học đã phát hiện trong Tử Cấm thành nhiều nền móng kiến trúc và vật liệu xây dựng, tìm thấy di tích cung Quyển Bồng, điện Bát Giác, hai hồ hình trăng khuyết.

 

Về phía góc tây-nam của thành Ngoại có một quả đồi cao khoảng hơn 37m, hình tròn như bát úp. Ðây là quả đồi cao và to nhất trong thành Hoàng Ðế. Nhân dân thường gọi là Gò Chùa vì xưa kia có ngôi chùa cổ. Theo kết quả khảo sát khảo cổ học thì trên đỉnh đồi và chân đồi, còn tìm thấy nhiều gạch, ngói, đồ gốm Chămpa. Có thể thời kinh đô Vijaya, tại đây đã tồn tại một kiến trúc tôn giáo của Chămpa, sau bị tàn hủy và hoang phế. Chính trên Gò Chùa này, khảo cổ học đã phát hiện di tích đàn Nam Giao của thành Hoàng Ðế thời Tây Sơn qua kết quả khai quật năm 2007.

 

Ðỉnh đồi tương đối bằng phẳng đã được tu sửa thành hình gần tròn, đường kính khoảng 35-37m. Trên đỉnh đồi, dưới lớp đất màu đỏ, đã tìm thấy di tích nền lát bằng gạch hình vuông và đá ong. Quanh đỉnh hình tròn còn dấu tích kè gạch và đá ong thu dần lên đỉnh, đầm nện bằng đất đồi màu đỏ lẫn sỏi khá kiên cố. Tại mặt đông của sườn đàn đã phát hiện dấu tích bậc lên xuống xây bằng gạch. Dưới đỉnh đàn hình tròn là một cấp nền hình gần vuông [7]. Như vậy, có thể nhận xét đàn Nam Giao của thành Hoàng Ðế xây dựng theo mô hình qui chuẩn là trên tròn, dưới vuông, tượng trưng cho Trời- Tròn và Ðất-Vuông gần như mô hình đàn Nam Giáo Huế thời Nguyễn. Nhưng đàn Nam Giao thời Tây Sơn dựa trên cơ sở tận dụng một gò đất cao nằm về phía tây nam trong kinh thành. Phát hiện này hoàn toàn phù hợp với miêu tả của Nguyễn Văn Hiển trong Ðồ Bàn thành chí. Trong năm 2007, diện tích khai quật mới 137 m2. Công việc khai quật và nghiên cứu về đàn.

 

Nam Giao này sẽ còn tiếp tục để xác định rõ hơn bình diện kiến trúc và đề xuất giải pháp bảo tồn lâu dài.

                                                     

III. Ðàn Nam Giao của kinh thành Tây Ðô

 

Tư liệu lịch sử cho biết, năm 1397 Hồ Quý Ly cho xây dựng một tòa thành lớn ở động An Tôn, phủ Thanh Hóa để chuẩn bị dời đô vào đó. Ðó là thành Tây Ðô mà nhân dân quen gọi là thành Nhà Hồ, nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa. Ðấy là một tòa thành qui mô lớn, hình gần chữ nhật, theo hướng bắc-nam, kết quả đo đạc gần đây cho biết con số chính xác: cạnh nam 877,10 m, cạnh bắc: 877,00, cạnh đông: 879,30m, cạnh tây: 880,00m, mặt trong và ngoài xây bằng đá [8]. Thành mở bốn cửa theo bốn hướng: đông, tây, bắc, nam, cửa Nam là cửa chính gồm ba cổng xây vòm cuốn. Ngoài thành có hào và phía ngoài có La thành bao quanh. Cửa Nam nhìn thẳng ra Ðốn Sơn (nhân dân thường gọi là núi Ðún) và chính tại núi này, nhà Hồ cho xây dựng đàn Nam Giao. Ðại Việt sử ký toàn thư chép: "[Năm Nhâm Ngọ-1402], tháng 8, Hồ Hán Thương đắp đàn Nam Giao ở Ðốn Sơn để làm lễ tế Giao" [9]. Ðại Việt sử ký tiền biên miêu tả lễ tế Giao đó như sau: "Hán Thương ngồi kiểu chạm mây rồng, đi từ cửa Nam ra, các cung tần, bách quan mệnh phụ, thứ tự theo hầu. Thời Trần chưa từng làm lễ tế Giao, Hán Thương bắt đầu làm" [10]. Theo điển chế của Trung Hoa, ngày đông chí đắp đàn hình tròn gọi là Viên Khâu ở phía nam kinh thành để tế Trời, ngày hạ chí đắp đàn hình vuông gọi là Phương Trạch ở phía bắc để tế Ðất, sau hợp tế cả Trời Ðất ở đàn Nam Giao vào đầu xuân.  Ðại Nam nhất thống chí chép: "Ðàn Nam Giao cũ của nhà Hồ ở phía nam trên núi Ðốn Sơn, thuộc xã Cao Mật, huyện Vĩnh lộc, do Hồ Quý Ly xây, dưới đàn có giếng tắm; xây đá làm thành do Hồ Hán Thương xây, di tích vẫn còn" và "lại xây một con đường lát đá hoa từ cửa Nam suốt đến đàn Nam Giao ở Ðốn Sơn" [11]. Ðoạn đường lát đá chạy thẳng từ cửa Nam đến Ðốn Sơn gần đây đã nâng cấp thành quốc lộ 45 và thỉnh thoảng nhân dân vẫn đào được những tấm đá lát đường. Từ cửa Nam thành Tây Ðô đến núi Ðốn Sơn khoảng 2,5 km.

 

Ðàn Nam Giao của thành Tây Ðô đã được ghi chép khá rõ, vị trí trên núi Ðốn Sơn phía nam thành Nhà Hồ, nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc. Ðốn Sơn có hai đỉnh núi, đàn Nam Giao xây ở khoảng giữa hai đỉnh núi. Khu di tích bỏ hoang từ lâu, những năm 1970-1980 nhân dân mới phát hoang, trồng bạch đàn. Dấu tích còn lại trên mặt đất là những tảng đá và ba cấp nền với độ cao từ 20m đến 15m, dưới là cánh đồng mang tên "ruộng Nam Giao". Tuy nhiên mãi đến năm 2005, Viện khảo cổ học mới phối hợp với Sở văn hóa thông tin tỉnh Thanh Hóa khai quật thăm dò lần thứ nhất và năm 2007 khai quật trên diện tích 2.000 m2.

 

Kết quả khai quật đã làm phát lộ một phần kiến trúc đàn Nam Giao. Di tích gồm các đoạn móng tường và tường đá, sân lát đá, đường đi, cửa và cống nước. Tất cả các kiến trúc đều bằng đá, móng nền sân, tường đầm nện đá khá chắc và phẳng, sân và đường đi lát đá, tường ốp đá hai bên, giữa đổ đất. Các kiến trúc bố trí trên các cấp nền cao dần theo thế núi. Cùng với các di tích kiến trúc đá, tìm thấy rất nhiều di vật gốm đồ gốm sứ, nhiều nhất là vật liệu kiến trúc như gạch, ngói, đầu đao trang trí hình lá đề, rồng, uyên ương, hoa lá..., trong đó có nhiều di vật giống như ở khu di tích Hoàng Thành tại Thăng Long. Trong phạm vi khai quật, chưa tìm thấy di tích móng trụ, chân tảng của kiến trúc nhà có khung mái [12].

 

Di tích đã phát lộ mới là một bộ phận của đàn Nam Giao thành Tây Ðô thời nhà Hồ. Nét độc đáo của kiến trúc đàn Nam Giao này là xây theo thế núi và chủ yếu xây bằng đá như thành Tây Ðô. Hi vọng những khai quật trong tương lai sẽ bộc lộ toàn bộ cấu trúc của đàn Nam Giao đầu thế kỷ XV này, nhất là trung tâm có thể là đàn hình tròn hay dưới vuông-trên tròn.

chú thích:

[1] Ðại Nam nhất thống chí, bản dịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1970, T. 3, tr. 184.

[2] Tuyển tập văn bia Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1978, T.2, tr. 44.

[3] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Sử học, Hà Nội 1961, Tập II, tr. 122-123.

[4] Phan Huy Lê (chủ biên), Ðịa bạ cổ Hà Nội, NXB Hà Nội, 2005, Tập I, tr. 202, 206.

[5] Tống Trung Tín, Báo cáo tổng hợp kết quả ba đợt thám sát, khai quật khảo cổ học địa điểm 114 Mai Hắc Ðế.

[6] Phan Huy Lê, Di tích thành Hoàng Ðế, Tạp chí Khảo cổ học số 4-1977.

      Lê Ðình Phụng, Thành Hoàng Ðế, kinh đô vương triều Tây Sơn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2007.

[7] Lê Ðình Phụng, Khai quật đàn Nam Giao thành Hoàng Ðế (Bình Ðịnh), tư liệu Viện Khảo cổ học.

[8] Kikuchi chủ biên, Nghiên cứu khảo cổ học di tích  thành Nhà Hồ tại Việt Nam, Tập I, Tokyo 2005, tr. 9 và 35.

[9] Ðại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ Q. VIII, tr. 41b, bản dịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1993, T. II, tr. 203.

[10] Ðại Việt sử ký tiền biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1997, tr. 513.

[11] Ðại Nam nhất thống chí, Sđd, T. II, tr. 238.

[12] Viện Khảo cổ học-Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa, Báo cáo tóm tắt kết quả khai quật di tích đàn Nam Giao Tây Ðô năm 2007.

Nguyễn Hồng Kiên, Di tích đàn Nam Giao thời nhà Hồ ở Thanh Hóa, Tạp chí Khảo cổ học số 1-2007, tr.44-53.

 
Copyright 2006 By IVCE . All Rights Reserved. Designed & Developed By WorldSoft